Nông dân phải là chủ thể

Tái cơ cấu nông nghiệp cần gắn với quy hoạch và khoa học - công nghệ để tạo sức cạnh tranh cho hàng hóa; phải tính đến khả năng bền vững về các mặt kinh tế, môi trường, xã hội của hệ thống sản xuất và cần phát huy được mũi nhọn, lợi thế trong mỗi vùng sinh thái. Đặc biệt, các chính sách cần hướng đến nông dân, làm sao để nông dân được hưởng thành quả xứng đáng với công sức lao động của mình.

 Bắt đầu từ kinh tế nông hộ

Sản xuất nông sản hàng hóa có lợi nhuận ngày càng cao là mong muốn của bà con nông dân. Nước ta đã hội nhập sâu với thế giới, người nông dân phải đương đầu với thách thức mới trong cạnh tranh với nông sản hàng hóa của nước ngoài, không chỉ trên thị trường thế giới, mà ở ngay trên sân nhà.

Như trái cây nhập khẩu cạnh tranh với trái cây sản xuất trong nước do hàng của họ rẻ hơn, chất lượng cao hơn, mẫu mã đẹp hơn. Nhưng để nông sản hàng hóa nước ta có giá trị cao không chỉ dựa vào năng suất và chất lượng cao, giá thành hạ, mà sản lượng hàng hóa phải nhiều, hàng phong phú và luôn sẵn sàng xuất bán cho thị trường trong và ngoài nước theo hợp đồng, đáp ứng ngay nhu cầu của thị trường mới kiến lập được. Chỉ có tổ chức cho nông dân sản xuất hợp lý mới có thể đáp ứng những yêu cầu trên.

Thực trạng sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL cho thấy người nông dân bao đời đã thực hiện đa canh trong vùng chuyên canh lúa. Hay ở những miệt vườn có nhiều kinh nghiệm thực hiện chuyên canh trong các hệ canh tác VAC đa canh. Kinh nghiệm này cần được bổ sung nhằm nâng lên trình độ cao hơn.

Từ thực tế phát triển thời gian qua, tổ chức sản xuất nông nghiệp cần bắt đầu từ đơn vị sản xuất cơ bản, hay kinh tế nông hộ? Theo tôi, các tổ chức liên quan, nhất là khuyến nông, cần giúp người nông dân có ý thức và kiến thức hoạch định sẽ sản xuất nông sản nào chuyên làm hàng hóa như trái cây đặc sản; hay vừa để nhà dùng vừa làm hàng hóa như lúa gạo; loại cho thị trường gần thường do người sản xuất đem bán trực tiếp, loại cho thị trường xa thường theo hợp đồng với doanh nghiệp; nông sản nào cho an ninh lương thực và an ninh dinh dưỡng gia đình.

Đời sống người nông dân được cải thiện sẽ tăng cường nội lực, bao gồm tri thức và kỹ năng đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiến thức và sức khỏe, để từ đó sản xuất ra nông sản hàng hóa có giá trị cao.

Có một thời chúng ta khuyến khích sản xuất lớn để xuất khẩu, không quan tâm đúng đến mức thị trường trong nước, do đó tính bền vững kém. Quá trình sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL, cũng như các địa phương khác cho đến vài năm gần đây vẫn xảy ra tình trạng khi khan hiếm một vài mặt hàng nào đó, khi lại dư thừa rớt giá.

Thí dụ, với trái nhãn giá thấp đến mức không đủ chi trả công thu hoạch, nông dân để trái chín tự rụng ngập mắt cá chân. Hậu quả họ chặt cây nhãn, trồng cây khác, nhưng chỉ sau mấy năm trồng lại cây nhãn. Vì thế, điều quan trọng là làm thế nào để giúp nông dân một cách thiết thực thoát ra khỏi cảnh sản xuất manh mún, nhỏ lẻ với những bước đi thích hợp, giảm tối thiểu rủi ro.

Đa dạng hình thức hợp tác xã

Tổ chức sản xuất chuyên canh nông sản nào đó sẽ dễ dàng có số lượng nông sản hàng hóa đáp ứng kịp thời theo yêu cầu của thị trường, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất thuận tiện hơn. Nhưng nếu nóng vội, không tính đến những rủi ro cho nông dân sẽ khiến họ chịu thiệt thòi như đã từng xảy ra.

Vấn đề đặt ra là nếu không có biện pháp tổ chức mạnh như là một cú hích, sản xuất nông nghiệp khó hội nhập nhanh với sản xuất ở các nước trong WTO có trình độ cao hơn. Cú hích này chính là hợp tác sản xuất với các hình thức thích hợp từ thấp đến cao. Ở đây cần lưu ý về việc hiện nay nông dân nghe đến hợp tác xã thường tỏ thái độ không mặn mà, nghi ngờ, do phong trào hợp tác hóa trong quá khứ kìm hãm sản xuất, đã khiến Đảng và Nhà nước phải có những quyết sách khắc phục, như ở Nghị quyết 100, Chỉ thị 10...

Thực tế, các hợp tác xã trước đây tan vỡ do không phải là… hợp tác xã, mà là những tổ chức sản xuất tập thể, chủ thể không phải là nông dân, dẫn đến tình trạng "dong công chấm điểm". Có thể nói năng suất gạo, cà phê... nước ta rất cao nhưng chi phí rất nhiều cho nước, phân bón, thuốc trừ sâu, vận tải, xay xát... trong khi giá bán lại thấp. Đặc biệt là phương thức sản xuất của chúng ta rất lạc hậu nên nông dân không thể giàu được, chỉ nghèo đi. So sánh giữa giá gạo trồng ở Việt Nam với ở Nhật Bản thấy chênh lệch rất lớn. 1kg gạo Việt Nam có giá 10.000 đồng, trong khi ở Nhật Bản bán 25USD/kg gạo, tương đương 500.000 đồng, đắt hơn gấp 50 lần.

Vì thế, cùng với việc đổi phương thức phát triển nông nghiệp, tổ chức hợp tác sản xuất nông nghiệp sẽ bền vững nếu người nông dân được coi là chủ thể sản xuất. Trang trại cũng là những nông hộ lớn. Hợp tác xã bao gồm các chủ thể sản xuất trên, không tước bỏ quyền làm chủ của nông dân. Người nông dân có thể tham gia hợp tác sản xuất một hoặc một số nông sản hàng hóa; có thể tham gia một khâu canh tác, hoặc một số khâu hay cả hệ thống; có thể tham gia một hay một số hợp tác xã phù hợp với sản xuất kinh doanh của hộ; sự hoạt động của hợp tác xã cũng không bị ràng buộc bởi địa giới hành chính... Tức nông dân có nhiều con đường thích hợp để dần tự nguyện đi vào sản xuất hợp tác.

Đã có khá nhiều hình thức tổ chức hợp tác được nông dân hưởng ứng, như hợp tác cung ứng vật tư kỹ thuật, hợp tác tiêu thụ nông sản hàng hóa, hợp tác chuyên làm mạ, cấy thuê, hợp tác trong nuôi trồng thủy sản kỹ thuật cao... Nông dân thấy cần thiết sẽ thuê người điều hành tốt, thuê chuyên gia giỏi chuyển giao công nghệ mới, như đã có nhiều tổ chức hợp tác thực hiện thành công.

GS.TS Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất