Cải thiện môi trường thu hút FDI

Năm 2013, cả nước có 1.275 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với tổng vốn đăng ký 14,27 tỷ USD và 472 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm 7,3 tỷ USD. Tính chung trong năm 2013, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,6 tỷ USD, tăng 54,5% so với năm 2012; vốn thực hiện ước đạt 11,5 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2012.

Các nhóm giải pháp

Cải thiện môi trường thu hút FDI ảnh 1
Theo Nghị quyết 103/NQ-CP ngày 29-8-2013 của Chính phủ, định hướng tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về thu hút FDI theo hướng chọn lọc các dự án có chất lượng, có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp; phát triển kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ hiện đại... Để triển khai hiệu quả chủ trương này, có những vấn đề phải làm ngay:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng nhất quán, công khai, minh bạch, có tính dự báo, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư và có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực.

Theo đó, nghiên cứu sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp cho phù hợp bối cảnh mới; rà soát tổng thể hệ thống luật pháp hiện hành liên quan đến đầu tư, kinh doanh theo hướng đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của Luật Đầu tư; quy định rõ hơn những đặc thù về thủ tục và điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài…

Chính phủ đã giao các bộ, ngành, địa phương thực hiện 60 đề án, chương trình cụ thể. Nếu các đề án được xây dựng có chất lượng và đúng tiến độ sẽ có tác động tích cực cải thiện môi trường đầu tư. Tuy nhiên, đến nay số lượng đề án, chương trình đã hoàn thành rất khiêm tốn. Hiện Bộ KH-ĐT đang phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các đề án này.

Thứ hai, điều chỉnh việc quản lý và phân cấp đầu tư theo hướng phát huy tính năng động, sáng tạo, chịu trách nhiệm của địa phương, đồng thời đảm bảo quản lý thống nhất của trung ương.

Theo đó, cơ quan cấp GCNĐT chủ trì thẩm tra theo quy định hiện hành, trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo thẩm tra đồng thời gửi Bộ Kế hoạch - Đầu tư để thẩm định độc lập. Trên cơ sở hồ sơ và báo cáo thẩm tra, bộ Kế hoạch - Đầu tư sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan, các chuyên gia và nhà khoa học... thẩm định dự án: ảnh hưởng, tác động của dự án đối với phát triển kinh tế - xã hội của vùng, quốc gia và các ngành; tính khả thi của các nguồn lực cho dự án (lao động, kết cấu hạ tầng, điện, nguyên liệu...); khả năng huy động vốn...

Tuy nhiên, đối với dự án có quy mô lớn, có tác động lớn về kinh tế - xã hội, cơ quan cấp GCNĐT cần có các chế tài hoặc yêu cầu đặt cọc để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ triển khai dự án đúng tiến độ. Đây là một trong các nội dung mới có tính pháp lý đối với việc cấp GCNĐT trong thời gian tới.

Thứ ba, để khắc phục tình trạng chồng chéo, kém hiệu quả trong hoạt động xúc tiến đầu tư thời gian qua, Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch - Đầu tư hàng năm và từng thời kỳ dựa trên nhu cầu thực tế ban hành bộ tiêu chí hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư.

Đặc biệt, coi trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ, tăng cường hỗ trợ các dự án đã được cấp GCNĐT để các dự án này triển khai hoạt động một cách thuận lợi, có hiệu quả, tăng cường đối thoại với các nhà đầu tư để giải quyết kịp thời những kiến nghị hợp lý của doanh nghiệp FDI nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

Định hướng chính sách

Về chính sách ưu đãi đầu tư, sẽ được sửa đổi bảo đảm tính hệ thống từ ưu đãi thuế, ưu đãi tài chính đến ưu đãi phi tài chính; thống nhất giữa chính sách thuế và chính sách đầu tư; thực hiện ưu đãi đầu tư có chọn lọc phù hợp với định hướng mới đối với thu hút FDI.

Bổ sung ưu đãi đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp. Bỏ bớt các hạn chế không cần thiết và cho phép tham gia nhiều hơn vào các thị trường vốn, thị trường tài chính trên nguyên tắc hiệu quả nhưng chặt chẽ. Bổ sung tiêu chí để xét ưu đãi đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, dự án có giá trị gia tăng cao, dự án sử dụng nhiều nguyên liệu, vật tư trong nước và dự án cam kết chuyển giao công nghệ tiên tiến...

Về chính sách khuyến khích, Luật Công nghệ cao sửa đổi sẽ bổ sung quy định về tiêu chí doanh nghiệp công nghệ cao theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế nước ta, có tính đến nhóm dự án có quy mô lớn, doanh thu hàng năm lớn, sử dụng nhiều lao động chất lượng cao...

Về đất đai, thu hẹp sự phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong việc tiếp cận đất đai; sửa đổi Nghị định 69/2009/NĐ-CP nhằm điều chỉnh giãn lộ trình tăng giá đất, quy định cụ thể hệ số hỗ trợ thu hồi đất; sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản theo hướng tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản đối với nhà đầu tư nước ngoài và bổ sung quy định về hình thức góp vốn bằng quyền phát triển dự án.

Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI đào tạo nghề cho người lao động; tạo thuận lợi hơn đối với việc cấp phép cho lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn, trình độ, công nghệ cao mà lao động trong nước chưa đáp ứng được; đồng thời có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đào tạo lao động trong nước thay thế đối với các vị trí nghề nghiệp này.

TS. Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KH-ĐT

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất