Cơ chế mới cho thời kỳ mới

Tại hội thảo “Định hướng nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài” do Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT) chủ trì mới đây, ông Quách Ngọc Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ KH-ĐT đã chia sẻ về định hướng Luật Đầu tư (sửa đổi) sẽ trình Quốc hội khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 và thông qua tại kỳ họp thứ 8 năm 2014.

Bất cập thực hiện luật đầu tư

Luật Đầu tư năm 2013 được coi là bước tiến quan trọng trong tiến trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư tại Việt Nam. Cùng với Luật Doanh nghiệp được thông qua và có hiệu lực thi hành vào cùng một thời điểm (1-7-2006), đây là lần đầu tiên sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam có một khung pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Cơ chế mới cho thời kỳ mới ảnh 1
Metfone của Tập đoàn Viettel là nhà cung cấp dịch vụ lớn
và hiệu quả tại Campuchia.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, do lần đầu tiên áp dụng khung pháp lý về đầu tư, kinh doanh thống nhất cho cả các doanh nghiệp và nhà đầu tư, việc triển khai thực hiện Luật Đầu tư đã không tránh khỏi một số khó khăn nhất định. Thực tế cho thấy Luật Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP chưa quy định rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đã khiến việc xác định địa vị pháp lý (quyền, nghĩa vụ) cũng như điều kiện và thủ tục đầu tư, kinh doanh của các đối tượng này chưa có quan điểm thống nhất giữa các cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư.

Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư đã bộc lộ nhiều bất cập. Nhiều địa phương tăng cường thu hút đầu tư nhưng không chú trọng chất lượng, hiệu quả của dự án, không tuân thủ quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ, dẫn đến tình trạng nhiều dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng không triển khai theo đúng tiến độ.

Ngay sau khi Luật Đầu tư và Nghị định 108 có hiệu lực thi hành, một loạt đạo luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh đã được ban hành hoặc sửa đổi (như Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản…).

Tuy nhiên, do cùng điều chỉnh hoạt động đầu tư nhưng không có sự phân định rõ ràng với Luật Đầu tư về phạm vi, đối tượng áp dụng, việc thực thi các luật này không tránh khỏi trùng lắp, thậm chí xung đột với quy định của Luật Đầu tư và Nghị định 108.

Điều nữa khiến việc thực hiện Luật Đầu tư bị hạn chế do Luật Đầu tư và Nghị định 108 có hiệu lực thi hành chỉ vài tháng trước thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), phải thực hiện lộ trình cam kết về mở cửa thị trường đầu tư trong các ngành dịch vụ cũng như các cam kết khác liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Bên cạnh đó, do tính chất phức tạp, mới mẻ của nhiều cam kết và thời gian chuẩn bị còn hạn chế, việc thực hiện Luật Đầu tư không tránh khỏi một số bất cập, như chưa có quan điểm thống nhất về việc áp dụng cam kết đối với nhà đầu tư không thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ là thành viên của WTO; chưa có quy định cụ thể về việc áp dụng cam kết đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư đã được thành lập tại Việt Nam…

 Tránh chồng chéo giữa các luật

Từ những tồn tại trên, theo tôi, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Luật Đầu tư nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống pháp luật, các quy định về phạm vi điều chỉnh cần được hoàn thiện theo hướng tiếp tục khẳng định Luật Đầu tư là đạo luật cơ bản điều chỉnh toàn bộ hoạt động đầu tư, kinh doanh của nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài.

Theo đó, cần xác định rõ hoạt động đầu tư đặc thù được điều chỉnh theo pháp luật chuyên ngành để tránh chồng chéo, xung đột về phạm vi điều chỉnh giữa luật này và pháp luật có liên quan, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Tiếp theo, phân định rõ hoạt động đầu tư trực tiếp điều chỉnh bởi luật này và hoạt động đầu tư gián tiếp được quy định tại Luật Chứng khoán.

Về nhóm các quy định chung, dự thảo luật cần hoàn thiện một số khái niệm cơ bản của Luật Đầu tư, như khái niệm nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp FDI. Cụ thể, để hợp với thông lệ quốc tế và tạo cơ sở pháp lý áp dụng thống nhất quy định về vấn đề này, dự thảo luật quy định khái niệm nhà đầu tư nước ngoài căn cứ vào tỷ lệ sở hữu và mức độ tham gia quản lý của của nhà đầu tư trong doanh nghiệp.

Khái niệm dự án đầu tư cũng cần được bổ sung quy định về nội dung dự án đó, bao gồm giải trình của nhà đầu tư liên quan đến mục tiêu của dự án, quy mô đầu tư, hình thức đầu tư, vốn đầu tư, địa điểm, nhu cầu sử dụng đất… Về các quy định bảo hộ đầu tư, dự thảo luật cần hoàn thiện thêm một số nội dung. Theo đó loại bỏ những nội dung đã có trong các văn bản pháp luật khác, tránh chồng chéo, trùng lặp (thí dụ quy định về áp dụng giá, phí thống nhất, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ…).

Cần quy định cụ thể hơn về nguyên tắc bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi luật pháp chính sách quy định tại Điều 11 Luật Đầu tư theo hướng bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước và nhà đầu tư… Tương tự, trong quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, dự thảo luật cần bỏ một số quy định đã được quy định trong các luật khác như quyền xuất nhập khẩu, quyền mua ngoại tệ, thế chấp quyền sử dụng đất.

Dự thảo luật cần sửa đổi các quy định về hình thức đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh để phân biệt với các hợp đồng kinh tế khác. Các hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT cũng cần được sửa đổi, bổ sung phù hợp với chủ trương thu hút các nguồn vốn đầu tư tư nhân phát triển các công trình kết cấu hạ tầng, hoặc cung cấp dịch vụ công theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Ngoài ra cần chỉnh sửa hợp lý các quy định về lĩnh vực, địa bàn đầu tư và ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, thủ tục đầu tư, triển khai dự án đầu tư, quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư…

Quách Ngọc Tuấn Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ KH-ĐT

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất