Tháng 9 và ngày Quốc khánh các nước

(ĐTTCO) - Ngày 2-9 năm nay là Quốc khánh lần thứ 77 của Việt Nam (2/9/1045 - 2/9/2022). Nhân dịp này, ĐTTC xin giới thiệu cùng bạn đọc một số nước cũng có ngày quốc khánh trong tháng 9. Và cho đến nay Việt Nam cũng như nền kinh tế các nước này đã có những tiến bộ vượt bật ra sao?

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

CHXHCN Việt Nam
Từ giữa những năm 1980 đến thời kỳ Đổi mới, Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế chủ đạo thông qua các kế hoạch 5 năm, với sự hỗ trợ từ nền kinh tế thị trường mở. Trong thời kỳ đó, nền kinh tế đã có tốc độ phát triển nhanh chóng.
Trong thế kỷ 21, Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, nhưng hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lớn thứ 37 trên thế giới tính theo GDP danh nghĩa với 404,105 tỷ USD. Việt Nam là thành viên nhiều tổ chức quốc tế, như Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á và Tổ chức Thương mại Thế giới...
Hiên nay Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu và là điểm đến hấp dẫn của đầu tư nước ngoài ở Đông Nam Á.
Theo dự báo tháng 12-2005 của Goldman Sachs, nền kinh tế Việt Nam sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 21 thế giới vào năm 2025, với GDP danh nghĩa ước tính là 436 tỷ USD và GDP bình quân đầu người là 4.357USD. HSBC cũng dự đoán rằng tổng GDP của Việt Nam sẽ vượt qua Na Uy, Singapore và Bồ Đào Nha vào năm 2050. 
Một dự báo khác của PricewaterhouseCoopers vào năm 2008 cho thấy, Việt Nam có thể là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong số các nền kinh tế mới nổi trên thế giới vào năm 2025, với mức tăng trưởng tiềm năng gần 10% mỗi năm tính theo đồng USD thực.
Đến năm 2017, PricewaterhouseCoopers tiếp tục dự báo Việt Nam có thể là nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới vào năm 2050. Việt Nam cũng đã có tên trong số các quốc gia Next Eleven và CIVETS. 

Cộng hòa liên bang Brazil
Ngày 7-9-1822, Cộng Liên bang Brazil tuyên bố độc lập khỏi Bồ Đào Nha. Hiện nay, Brazil là nền kinh tế lớn thứ ba ở châu Mỹ. Năm 2022, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Brazil là quốc gia lớn thứ 10 trên thế giới tính theo GDP danh nghĩa, và lớn thứ 9 tính theo sức mua tương đương, với 1.833 tỷ USD,  GDP bình quân đầu người 8.570USD.
Từ năm 2000 đến năm 2012, Brazil là một trong những nền kinh tế lớn phát triển nhanh nhất trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 5%. GDP của nước này đã vượt qua Vương quốc Anh vào năm 2012, trở thành nền kinh tế lớn thứ sáu thế giới. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của Brazil đã giảm tốc trong năm 2013 và bước vào suy thoái vào năm 2014, nền kinh tế chỉ bắt đầu phục hồi vào năm 2017.
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Brazil là quốc gia dẫn đầu sự phát triển về năng lực cạnh tranh trong năm 2009, giành được 8 vị trí trong số các quốc gia khác, lần đầu tiên vượt qua Nga và thu hẹp một phần khoảng cách cạnh tranh với Ấn Độ và Trung Quốc trong các nền kinh tế BRIC.
Các bước cải cách quan trọng được thực hiện kể từ những năm 1990 đối với sự bền vững về tài khóa, cũng như các biện pháp được thực hiện để tự do hóa và mở cửa nền kinh tế, đã thúc đẩy đáng kể các yếu tố cơ bản về năng lực cạnh tranh của đất nước, tạo môi trường tốt hơn cho sự phát triển của khu vực tư nhân. 
Từ một thuộc địa tập trung vào các mặt hàng cơ bản (đường, vàng và bông), Brazil đã tạo ra một cơ sở công nghiệp đa dạng trong thế kỷ 20. Ngành công nghiệp thép là một ví dụ điển hình cho điều đó, với Brazil là nhà sản xuất thép lớn thứ 9 trong năm 2018 và là nước xuất khẩu ròng thép lớn thứ 5 trong năm 2018. Gerdau của Brazil là nhà sản xuất thép dài lớn nhất ở châu Mỹ, sở hữu 337 đơn vị công nghiệp và thương mại và hơn 45.000 nhân viên trên 14 quốc gia. Petrobras, công ty dầu khí của Brazil, là công ty có giá trị nhất ở Mỹ Latinh.
Năm 2020, Forbes xếp hạng Brazil là quốc gia có số lượng tỷ phú lớn thứ 7 trên thế giới. Brazil là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế, chẳng hạn như Mercosur, Prosur, G8 + 5, G20, WTO, Câu lạc bộ Paris, Nhóm Cairns, và là thành viên thường trực của OECD.
 
CHDCND Triều Tiên
Sau một thời gian dài bị Nhật Bản chiếm đóng (1905-1945), ngày 9-9-1948, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên chính thức tuyên bố thành lập, với sự ủng hộ của Nga để xây dựng nhà nước XHCN. Kể từ những năm 1990, sau sự sụp đổ của Liên Xô, hoạt động thị trường phi chính thức đã gia tăng, và đã buộc nền kinh tế Triều Tiên phải tổ chức lại các quan hệ kinh tế đối ngoại, bao gồm cả việc tăng cường trao đổi kinh tế với nước láng giềng Hàn Quốc.
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Triều Tiên. Tuy nhiên, cho đến nay tư tưởng Juche (Chủ thể) của Triều Tiên đã khiến nước này theo đuổi sự chuyên quyền trong một môi trường bị quốc tế trừng phạt. 
Triều Tiên có GDP bình quân đầu người tương đương với nước láng giềng Hàn Quốc từ sau Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) cho đến giữa những năm 1970, nhưng vào cuối những năm 1990 và đầu thế kỷ 21, GDP bình quân đầu người dưới 2.000 USD. Năm 2012, GDP trên đầu người ở Triều Tiên là 1.523USD, so với 28.430USD ở Hàn Quốc. Nền kinh tế Triều Tiên bị quốc hữu hóa nặng nề, lương thực và nhà ở được nhà nước bao cấp; giáo dục và y tế miễn phí; và việc nộp thuế chính thức bị bãi bỏ vào năm 1974. 
Năm 2016, đã có một số tự do hóa kinh tế ở Triều Tiên, đặc biệt sau khi ông Kim Jong-un lên nắm quyền lãnh đạo vào năm 2012, nên GDP đạt 28.500 tỷ USD. Năm 2021, lần đầu tiên khu vực tư nhân của Triều Tiên phát triển nhanh hơn khu vực công, báo hiệu một sự chuyển đổi tích cực. Công nghiệp và dịch vụ sử dụng 65% trong tổng số 12,6 triệu lao động của Triều Tiên.
Các ngành công nghiệp chính bao gồm chế tạo máy, thiết bị quân sự, hóa chất, khai thác mỏ, luyện kim, dệt may, chế biến thực phẩm và du lịch. Sản xuất quặng sắt và than là một trong số ít các lĩnh vực Triều Tiên vượt trội đáng kể so với Hàn Quốc (gấp khoảng 10 lần).

Hợp chủng quốc Mexico
Ngày 16-9-1810, Hợp chủng Quốc Mexico tuyên bố độc lập khỏi sự cai trị của Tây Ban Nha. Tính đến tháng 4-2018, Mexico có GDP danh nghĩa lớn thứ 15 thế giới (1.150 tỷ USD) và lớn thứ 11 theo sức mua tương đương (2.450 tỷ USD). Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm khoảng 2,9% (tính đến năm 2016). Nông nghiệp chiếm 4% nền kinh tế trong 2 thập kỷ qua, trong khi công nghiệp đóng góp 33% (chủ yếu ô tô, dầu mỏ và điện tử) và dịch vụ (đặc biệt là dịch vụ tài chính và du lịch) đóng góp 63%.
Theo báo cáo năm 2009 của Ngân hàng Thế giới (WB), GDP của Mexico tính theo tỷ giá hối đoái thị trường cao thứ hai ở Mỹ Latinh, chỉ sau Brazil, ở mức 1.830,392 tỷ USD, dẫn đến GDP bình quân đầu người cao nhất trong khu vực ở mức 15.311USD. IMF dự báo đến năm 2050, Mexico có khả năng trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 hoặc thứ 7 trên thế giới. 
Mexico là nền kinh tế thị trường đang phát triển. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Mexico đạt sự ổn định kinh tế vĩ mô khá cao, lạm phát đã giảm và lãi suất xuống mức thấp kỷ lục. Mặc dù vậy, khoảng cách đáng kể vẫn tồn tại giữa dân số thành thị và nông thôn, các bang miền Bắc và miền Nam, người giàu và người nghèo. Các khu vực công nghiệp và dịch vụ hiện đại của Mexico đang phát triển nhanh chóng, với tỷ lệ sở hữu tư nhân ngày càng tăng.
Các chính quyền gần đây đã mở rộng cạnh tranh trong các lĩnh vực cảng, đường sắt, viễn thông, phát điện, phân phối khí đốt tự nhiên và sân bay, với mục đích nâng cấp cơ sở hạ tầng. Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, hơn 90% thương mại Mexico theo các hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 40 quốc gia, bao gồm Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Israel và phần lớn Trung và Nam Mỹ.
Lực lượng lao động của Mexico bao gồm 52,8 triệu người vào năm 2015. OECD và WTO đều xếp hạng công nhân Mexico là lao động chăm chỉ nhất trên thế giới về số giờ làm việc hàng năm, nhưng lương cho mỗi giờ làm việc vẫn ở mức thấp.

 Cộng hòa Chile
Ngày 18-9-1810, Cộng hòa Chile tuyên bố độc lập khỏi Tây Ban Nha. Hiện nay, Chile là một nền kinh tế thị trường và nền kinh tế thu nhập cao theo xếp hạng của WB. Quốc gia này được coi là một trong những quốc gia thịnh vượng nhất của Nam Mỹ, dẫn đầu khu vực về khả năng cạnh tranh, thu nhập bình quân đầu người, toàn cầu hóa, tự do kinh tế và nhận thức về tham nhũng. Mặc dù Chile có bất bình đẳng kinh tế cao (theo chỉ số Gini), nó gần với mức trung bình của khu vực. 
Năm 2006, Chile trở thành quốc gia có GDP bình quân đầu người danh nghĩa cao nhất ở Mỹ Latinh. Vào tháng 5-2010 Chile trở thành quốc gia Nam Mỹ đầu tiên gia nhập OECD. Doanh thu từ thuế đạt 20,2069% GDP vào năm 2013, là mức thấp thứ hai trong số 34 nước OECD. Chile có chỉ số phát triển con người được điều chỉnh theo bất bình đẳng là 0,709, so với 0,729, 0,712 và 0,570 của các nước láng giềng Argentina, Uruguay và Brazil. Vào năm 2017, chỉ 0,7% dân số sống với mức dưới 1,90 USD/ngày. 
Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu cho năm 2009-2010, xếp Chile là quốc gia cạnh tranh thứ 30 trên thế giới và thứ nhất ở châu Mỹ Latinh, cao hơn Brazil (thứ 56), Mexico (thứ 60) và Argentina (thứ 85), nhưng nay đã rơi khỏi top 30. Chỉ số dễ kinh doanh của WB đã liệt kê Chile đứng thứ 34 trên thế giới vào năm 2014, thứ 41 vào năm 2015 và thứ 48 vào năm 2016. 
Vương quốc Ả Rập Xê Út 
Ngày 23-9-1932, Vương quốc Ả Rập Xê Út (Saudi Arabia) chính thức tuyên bố thành lập. Ả Rập Xê Út là nền kinh tế lớn nhất trong các quốc gia Ả Rập và lớn thứ 18 trên thế giới. Là thành viên thường trực và sáng lập của OPEC, Ả Rập Xê Út cũng là thành viên của diễn đàn G20 với tư cách là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nền kinh tế của đất nước chủ yếu dựa vào sự bảo trợ và các dịch vụ được hỗ trợ bởi chính phủ.
Với giá trị ước tính khoảng 34.400 tỷ USD, Ả Rập Xê Út có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên có giá trị thứ ba trên thế giới, chủ yếu là dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. Quốc gia này có trữ lượng dầu mỏ đã được thăm dò lớn thứ hai, và trữ lượng khí đốt tự nhiên đã được chứng minh lớn thứ sáu thế giới. Ả Rập Xê Út hiện là nước xuất khẩu xăng dầu lớn nhất thế giới. Các ngành chính khác của nền kinh tế bao gồm lọc dầu và sản xuất hóa chất từ trữ lượng dầu mỏ, phần lớn trong số đó được tích hợp theo chiều dọc trong doanh nghiệp nhà nước Saudi Aramco.
Nền kinh tế của Ả Rập Xê Út hoạt động như một công ty khai thác dầu và quốc gia này đóng một vai trò quan trọng trong OPEC. Năm 2016, Chính phủ Ả Rập Xê Út đã khởi động chương trình Tầm nhìn 2030 nhằm giảm sự phụ thuộc của đất nước vào dầu mỏ và đa dạng hóa các nguồn lực kinh tế. Trong quý đầu tiên của năm 2019, ngân sách của Ả Rập Xê Út có thặng dư đầu tiên kể từ năm 2016. Mức thặng dư 10,10 tỷ USD này đạt được do sự gia tăng nguồn thu từ dầu mỏ và phi dầu mỏ. 
Ngoài dầu mỏ và khí đốt, Ả Rập Xê Út còn có một lĩnh vực khai thác vàng đáng kể ở vùng Mahd adh Dhahab cổ đại và các ngành công nghiệp khoáng sản quan trọng khác. Nước này cũng có một ngành nông nghiệp dựa trên rau, trái cây, chà là, chăn nuôi, và một số lượng lớn việc làm tạm thời được tạo ra bởi khoảng 2 triệu người hành hương hàng năm.
Ả Rập Xê Út đã có các "Kế hoạch Phát triển" 5 năm kể từ năm 1970. Trong số các kế hoạch của nước này là khởi động các "thành phố kinh tế", với nỗ lực đa dạng hóa nền kinh tế và cung cấp việc làm. Tính đến năm 2013, 4 thành phố đã được quy hoạch.
Các thành phố sẽ được trải rộng khắp Ả Rập Xê Út để thúc đẩy đa dạng hóa cho từng khu vực và nền kinh tế của họ, các thành phố này đóng góp 150 tỷ USD vào GDP. Nhà vua đã công bố GDP bình quân đầu người được tăng từ 15.000 USD năm 2006 lên 33.500 USD vào năm 2020. Thực tế, hiện GDP đầu người của Ả Rập Xê Út chỉ đạt 28.800USD và GDP là 1.040 tỷ USD.

VINH TRANG

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Ảnh minh họa.

Kinh tế thế giới “tê liệt” vì địa chính trị

(ĐTTCO) - “Thế giới đang ở trong tình trạng hiểm họa lớn và tê liệt. Niềm tin đang sụp đổ, sự bất bình đẳng đang bùng nổ, hành tinh của chúng ta đang bùng cháy. Con người đang bị tổn thương, với những người dễ bị tổn thương nhất" - Tổng thư ký Liên hiệp quốc (LHQ) Antonio Guterres cảnh báo.

Nhân vật

Gautam Adani - Tỷ phú kiếm tiền nhanh nhất 2022

(ĐTTCO) - Trước khi đại dịch Covid-19 bắt đầu, Gautam Adani chỉ là người giàu thứ 7 ở Ấn Độ. Nhưng chỉ 2 năm sau, ông không chỉ giàu nhất Ấn Độ, giàu nhất châu Á, mà còn là tỷ phú giàu thứ 2 thế giới, theo xếp hạng của Forbes ngày 20-9.